Recent Posts

Ngồi kêu than, ước ao ích chi

Vẫn biết rằng không ai tính phí ước mơ nhưng thực tại vẫn là yếu tố chính để quyết định tương lai. Ngồi đó mộng tưởng thì ích chi, vậy mà xã hội vẫn không ít người mơ mộng hão huyền, ôm cây đợi thỏ - ngồi chờ sung rụng; chẳng chịu động chân động tay làm gì mà ngồi mộng tưởng vẽ ra một viễn cảnh may mắn từ trên trời rơi xuống. Đó phải chăng là nguyên nhân của một xã hội kém phát triển, một thế hệ lười biếng ỉ lại.
Một câu hỏi muôn thủa của đại đa số con người: bao giờ mới giàu!
Sống chẳng biết cân đối chi tiêu tiết kiệm, lười biếng không chịu làm việc, không chịu sử dụng cái đầu để tư duy mà chỉ dụng đầu để mơ tưởng. Ai cũng có thể trả lời câu hỏi đó: chẳng bao giờ có thể giàu nếu cứ ngồi đó mà mơ.
Từ xưa đến nay đã có rất nhiều tấm gương vượt khó thành công đáng để học hỏi nhưng ta lại luôn cho rằng họ gặp may hay được thừa hưởng một gia tài từ gia đình,... Xin thưa rằng may mắn do chính chúng ta tạo ra, đó chính là bí mật của may mắn. 

Dòng đời

Dòng đời xô đẩy ngược xuôi
Bôn ba bốn cõi chẳng nguôi lòng mình
Lâu lắm mới lại có thời gian viết blog, có lẽ từ khi đi làm mình đã phải đánh đổi nhiều thứ hơn. Cuộc đời vốn là một chuỗi các đánh đổi, được mất, hơn thua,... và khi đi làm ta phải đánh đổi thời gian đọc sách lấy thời gian làm việc, thời gian vui chơi lấy thời gian làm thêm,... Nếu chúng ta không biết cân bằng cuộc sống thì chính hiện tại đang giết chết tương lai tươi sáng của mình.
Một thời gian đầu khi đi làm tôi đã cảm thấy rất mệt mỏi khi bắt đầu một môi trường mới với nhịp sống và thời gian biểu khác hẳn trước đây khi còn đi học. Và rồi dần dần tôi cũng bắt nhịp được với cuộc sống mới.
Đôi lúc tôi tự hỏi lòng mình: nếu mỗi ngày trôi qua đều như thế này thì cuộc đời của mình sẽ trôi đến đâu, tương lai sẽ như thế nào, mục đích cuộc sống của mình là gì,... vô vàn câu hỏi được đặt ra để rồi lại đưa tôi đến tâm trạng chán chường vô phương hướng. Vẫn biết rằng: niềm đam mê + nhiệt huyết = thành công  nhưng sao tôi thấy nó mù mịt quá chừng. 

Thiên cao địa hậu - Trời cao đất dày

Thể của trời thì rất cao, hư không tròn trịa không dò được, khuếch đại vô biên, không gì không che, không gì không chứa, bắt đầu vạn vật mà không cậy đức, ban ơn cho vạn vật mà không mong báo đáp, con người tôn kính là vì đó, con người coi thường cũng là vì đó, con người cảm kích mà yêu cũng là vì đó, con người chửi rủa cũng là vì đó, sự yêu ghét xấu đẹp của con người, sự hung ngoan lành thuận, đều để mặc tự nhiên mà không tính toán.
Thế của đất rất dày, ở thấp mà cư xử khiêm hạ, không vật gì không chở, không vật gì không nuôi, lớn như Thái Sơn Tung Sơn, rất nặng mà vẫn có thể chở, sông nước biển hồ mạnh mẽ cũng có thể thụ nhận, cây cối thảo mộc xuyên vào mà vẫn chịu đựng được, phi cầm tẩu thú bước lên mà có thể thuận theo, toàn bộ các thứ bẩn thỉu và khinh thường đều không biết đến.
Ta xem điều đó, bèn ngộ ra Đạo hiệu thiên pháp địa . Người mà tính cách có thể độ lượng khoan dung, không vật gì không dung, giúp người già thương kẻ nghèo, phù nguy cứu khốn, thi đức không mong báo, cói oán mà không kết, ta người như nhau, đây đó như một, thì có thể giống như trời. Người mà tính cách có thể nhu nhược tự hạ, khiêm ti tự xử, không chút nóng nảy, trừ hết tính nóng, bị chửi mà không giận, bị lăng nhục mà không hiểu, gian nan khốn khổ tùy thời, tật bệnh tai hại thuận thụ, toàn bộ đại hiểm đại nguy, những cảnh ngộ không thuận lợi, đều không có lòng phiền não oán ưu, thì có thể sáng ngang với đất. Cao thì bắt chước trời, thấp thì bắt chước đất, thì hợp đức cùng trời đất mà trường cửu cùng trời đất vậy
(Ngộ Đạo Lục - Lưu Nhất Minh)

Sức mạnh của niềm tin (Chiếc lá cuối cùng)

Vậy nên chẳng mấy chốc cánh nghệ sĩ đổ xô đến ngôi làng Greenwich cổ kính kì quặc đó, săn tìm những cửa sổ phía Bắc, những đầu hồi thế kỉ thứ mười tám và những căn phòng áp mái kiểu Hà Lan với giá thuê rẻ. Rồi họ nhập khẩu vài cái xô chậu đúc bằng hợp kim chì và thiếc, một hoặc hai cái bếp lẩu từ đại lộ Thứ Sáu rồi hình thành nên "khu hoạ sĩ".
Áp mái tòa nhà gạch ba tầng thấp tịt, Sue và Johnsy có một xưởng vẽ. Johnsy là tên gọi thân mật của Joanna. Một người từ Maine đến, còn người kia đến từ California.

Họ gặp nhau tại Table d'hôte trong tiệm Delmonico trên phố Thứ Tám và nhận thấy có cùng sở thích về nghệ thuật, về món salad rau diếp, về kiểu ống tay áo ngoài rộng và hợp nhau đến nỗi kết quả là một xưởng vẽ chung ra đời.

Dạo ấy là vào tháng Năm. Tháng Mười Một, gã khách lạ chưa hề được thấy mặt, lạnh lẽo, mà bác sĩ gọi là gã Viêm Phổi, rình rập đến khu họa sĩ, thỉnh thoảng vươn những ngón tay lạnh buốt của mình chạm vào ai đó. Khắp mạn Ðông, kẻ hủy diệt ấy hùng dũng bước đi, quật ngã hàng chục nạn nhân; nhưng khi qua những "biệt khu" đầy rêu và những con phố hẹp loằng ngoằng, bàn chân gã bước đi dè dặt.

Ngài Viêm Phổi không thuộc hàng chính nhân quân tử. Một phụ nữ mảnh mai, máu kiệt dần bởi những cơn gió Tây miền California khó có thể là đối thủ chính đáng của gã đần có nắm đấm đỏ, thở dốc, già nua kia. Nhưng gã vẫn quật ngã Johnsy; cô nằm, hầu như không động đậy trên chiếc giường sắt sơn của mình, nhìn qua những ô kính cửa sổ nhỏ kiểu Hà Lan lên bức tường trống trơn của ngôi nhà gạch đối diện.

Sáng nọ, ông bác sỹ có đôi mày rậm, đốm bạc gọi Sue ra hành lang.

- Ta có thể nói cơ hội sống của cô ấy chỉ còn lại một phần mười, - ông nói khi lắc nhiệt kế để thủy ngân hạ xuống. - Nhưng cái phần đó còn phụ thuộc vào việc cô ấy có muốn sống nữa hay không. Cái kiểu con người cứ sắp hàng bên cạnh ông chủ nhà hòm như thế thì thuốc men cũng chẳng có nghĩa lí gì. Cô bạn bé nhỏ của cô đã nghĩ rằng mình sẽ không bình phục nữa. Cô ấy có điều gì vướng mắc trong đầu không?

- Bạn ấy - bạn ấy mong ước có ngày vẽ được vịnh Naples - Sue đáp.

- Vẽ ư? Hừ! Cô ấy không có điều gì đáng để bận tâm gấp bội lần hơn ư? - một chàng trai, chẳng hạn?

- Một chàng trai à? - Sue nói, cao giọng như thể tiếng đàn chợt buông dây - Một người đàn ông thì tốt ư? Nhưng, không, thưa bác sỹ, không có chuyện đó đâu.

- À, vậy ra chỉ tại yếu thôi - bác sỹ nói - Tôi sẽ cố hết sức chữa chạy bằng tất cả vốn liếng y học của mình. Nhưng một khi bệnh nhận bắt đầu tính có bao nhiêu xe dự tang lễ của mình thì tôi phải trừ đi năm mươi phần trăm công hiệu cứu chữa của thuốc men. Nếu cô có thể làm cho cô ấy hỏi về những mốt mới mùa đông, tay áo chẳng hạn, thì tôi chắc trong mười phần cô ấy đã khá lên hai thay vì một như bây giờ.

Sau khi bác sĩ ra về, Sue vào phòng làm việc, khóc ướt đẫm cả chiếc khăn Nhật. Rồi cô bình tĩnh mang bảng vẽ vào phòng Johnsy, miệng huýt sáo một điệu nhạc Jazz.

Johnsy nằm, quay mặt về phía cửa sổ, tấm chăn trên người hầu như không gợn vết nhăn nào. Sue ngừng huýt sáo bởi tưởng bạn đã ngủ.

Cô dựng bảng vẽ và bắt đầu vẽ bức minh họa cho câu chuyện tạp chí bằng bút sắt. Những họa sĩ trẻ phải lát con đường đến nghệ thuật bằng các bức tranh minh họa cho những truyện trên tạp chí do các cây bút trẻ đã lát xuống để đến với văn học.

Khi Sue đang vẽ phác chiếc quần dài cưỡi ngựa trang nhã và chiếc kính một mắt cho nhân vật chính của truyện, anh chàng cao bồi Idaho, thì cô nghe có tiếng thì thầm lặp đi lặp lại nhiều lần. Cô bước vội đến bên giường.

Mắt Johnsy mở to. Cô đang nhìn ra cửa sổ và đếm - đếm lùi lại.

- Mười hai, - cô đếm, ngừng một lát, - "mười một", rồi "mười", "chín"; rồi gần như cùng một lúc "tám" và "bảy".

Sue lo lắng nhìn ra ngoài của sổ. Ðếm cài gì ở ngoài đó? Trong tầm mắt chỉ có một cái sân trơ trụi, ảm đạm và bức tường trống trơn của ngôi nhà gạch cách chừng sáu mét. Một dây trường xuân già, rất già, gốc cong queo và mục nát, leo đến giữa bức tường gạch. Hơi thở lạnh lẽo của mùa thu đã bứt lá của nó ra khỏi thân cho đến lúc chỉ còn trơ đám cành cây gần trụi hết lá bám vào những viên gạch nẻ sứt.

- Cái gì vậy hả bạn? - Sue hỏi.

- Sáu - Johnsy nói như thể là tiếng thì thào - Giờ thì chúng rụng nhanh hơn. Ba hôm trước phải gần cả trăm. Nó làm đầu mình phát đau lên khi đếm. Nhưng bây giờ thì dễ rồi. Một chiếc nữa đã đi. Giờ chỉ còn năm.

- Năm cái gì hả bạn? Nói cho Sudie của bạn biết đi.

- Những chiếc lá. Trên cây trường xuân. Khi chiếc cuối cùng rơi, chắc mình cũng ra đi. Mình biết điều đó đã ba ngày nay. Bác sĩ không nói gì với bạn sao?

- Ồ, mình không nghe những chuyện nhảm nhí như vậy đâu - Sue trách với vẻ ân cần quả quyết - Mấy chiếc lá trường xuân già đó thì có liên quan gì đến việc bạn bình phục kia chứ? Tại bạn quá yêu các dây leo ấy, thế đấy, bạn hư quá. Ðừng có nói dại nữa! À, sáng nay bác sỹ bảo mình rằng cơ hội bình phục nhanh của bạn là - để mình nhớ chính xác lời ông ấy - ông nói cơ hội chiếm đến chín phần mười! À, đấy là cơ hội gần chắc chắn như khi chúng ta đi ô tô hay đi bộ vượt qua một tòa nhà mới ở New York. Bây giờ hãy cố ăn tí cháo và để Sudie quay lại với bức vẽ, có thế thì bạn ấy mới có thể bán cho người biên tập rồi mua rượu vang port cho cô bé ốm yếu của bạn và lườn lợn cho cái bụng háu ăn của bạn ấy.

- Bạn không cần phải mua rượu vang nữa đâu - Johnsy nói, mắt vẫn nhìn ra ngoài cửa sổ - Một chiếc nữa rơi rồi. Không, mình không muốn ăn cháo tí nào. Chỉ còn bốn chiếc lá. Mình muốn xem chiếc cuối cùng rụng trước khi trời tối. Rồi mình cũng sẽ đi theo.

- Bạn Johnsy yêu quý ơi - Sue cúi người xuống nói - bạn có hứa với mình là sẽ nhắm mắt và không nhìn ra ngoài cửa sổ cho đến khi mình làm xong việc không? Mình phải nộp mấy bức này vào ngày mai. Mình cần ánh sáng, nếu không thì mình đã buông rèm xuống.

- Bạn không thể vẽ ở phòng khác sao? - Johnsy hờ hững hỏi.

- Mình thích ở đây, bên bạn - Sue đáp - Hơn nữa mình không muốn bạn cứ dán mắt vào những chiếc lá trường xuân ngớ ngẩn ấy.

- Khi nào bạn xong thì báo ngay cho mình nhé - Johnsy nói, nhắm mắt lại và nằm im, tái nhợt như một pho tượng đổ - bởi vì mình mình muốn xem chiếc lá cuối cùng rụng. Mình mệt mỏi vì chờ đợi. Mình rã rời vì suy nghĩ. Mình muốn tháo tung mọi thứ ràng buộc và dong buồm lướt đi, lướt đi tựa như một trong những chiếc lá mòn mỏi đáng thương kia.

- Hãy cố ngủ đi - Sue nói - Mình phải mời ông lão Behrman lên làm mẫu bức người thợ mỏ già khắc khổ. Mình sẽ đi một chốc thôi. Ðừng cố di chuyển cho đến khi mình quay lại.

Ông lão Behrman là họa sĩ sống ở tầng trệt bên dưới nhà họ. Lão đã ngoài sáu mươi, có bộ râu xoăn như bức tượng Moses của Michael Angelo, lượn như tóc từ đầu của thần Satyr xuống thân hình một con quỷ nhỏ. Behrman không thành công trong nghệ thuật. Ðã bốn mươi năm múa bút mà lão chưa hề chạm tới được gấu áo Nữ thần của mình. Lão luôn ấp ủ ý định vẽ một kiệt tác, nhưng vẫn chưa bắt đầu. Suốt nhiều năm nay, lão chẳng vẽ được gì ngoại trừ thỉnh thoảng làm mấy đường quảng cáo hay chào hàng. Lão kiếm được ít tiền bằng cách ngồi mẫu cho mấy nghệ sĩ trẻ trong khu "hoạ sĩ" ấy, những người không đủ tiền thuê người mẫu chuyên nghiệp. Lão uống Gin quá độ, nhưng vẫn nói về kiệt tác sắp vẽ của mình. Còn những lúc khác, lão là một lão già nhỏ thó hung tợn, luôn chế nhạo tính nhu mì của bất kì ai và luôn tự xem mình như loại khuyển đặc biệt, canh phòng bảo vệ hai nghệ sĩ trẻ ở xưởng vẽ bên trên.

Sue tìm thấy lão Behrman nồng nặc mùi rượu dâu nặng trong cái hang mờ tối của lão bên dưới. Trong góc phòng, một tấm vải trống, căng sẵn trên giá, vẫn đợi suốt hai mươi lăm năm nay chờ nét vẽ đầu tiên của bức kiệt tác. Cô kể cho lão nghe ý nghĩ lạ lùng của Johnsy và cái cách bạn ấy thực sự đuối đi, sắp lìa tung như một chiếc lá bay xa khi sự níu giữ mỏng manh của bạn ấy với thế giới này ngày một yếu hơn.

Lão Behrman, đôi mắt đỏ ngấn lệ, oang oang biểu lộ sự khinh thường và công kích của mình trước chuyện tưởng tượng ngu ngốc như thế.

- Chà! Trên thế gian này còn có người ngốc đến độ muốn chết vì những chiếc lá lìa xa cái dây leo vớ vẩn kia ư? Ta chưa bao giờ nghe chuyện nào như thế cả. Không, ta sẽ không ngồi làm mẫu lão già đần độn khắc khổ ù lì của cô đâu. Sao cô lại để cái chuyện ngu ngốc ấy chui vào óc của cô ta? Ôi, tội nghiệp thay cho Johnsy bé bỏng.

- Bạn ấy ốm yếu lắm - Sue nói - và sốt đã làm đầu óc bạn ấy đâm bệnh hoạn, đầy rẫy những ý tưởng hoang đường. Thôi được, bác Behrman à, nếu bác không ngồi mẫu cho cháu thì cũng chẳng sao. Nhưng cháu nghĩ bác là một lão già cục cằn, ba hoa, lọm khọm.

- Cô đúng là đồ đàn bà! - lão Behrman hét lên - Ai bảo ta không ngồi mẫu? Ði nào. Ta đi cùng cô. Ta đã nói suốt nửa tiếng đồng hồ rằng ta sẽ làm mẫu rồi cơ mà. Lạy Chúa! Ðây không phải là nơi để một người tử tế như cô Johnsy nằm dưỡng bệnh. Hôm nào đó ta sẽ vẽ kiệt tác đó và tất cả chúng ta sẽ giã từ chốn này. Lạy Chúa! Ðúng đấy.

Johnsy đang ngủ khi hai người lên gác. Sue kéo rèm xuống che kín cửa sổ rồi ra hiệu cho lão Behrman sang phòng bên. Ở đấy, họ lo lắng nhìn ra cửa sổ, về phía cây trường xuân. Rồi hai người im lặng nhìn nhau một lát. Một cơn mưa lạnh, dai dẳng lẫn với tuyết đang rơi. Vận chiếc sơ mi xanh cũ, Behrman ngồi trên cái ấm lật úp, giả làm hòn đá trong tư thế người thợ mỏ khắc khổ.

Sáng hôm sau, Sue thức giấc sau khi chợp mắt được một tiếng đồng hồ, cô bắt gặp đôi mắt mở to, vô cảm của Johnsy nhìn trân trân vào tấm rèm xanh nơi cửa sổ.

- Kéo hộ nó lên đi,  mình muốn nhìn - cô thì thào giục.

Sue miễn cưỡng nghe lời.

Nhưng, kìa! Sau một đêm mưa quật, gió mạnh lồng lộng không ngớt, trên bức tường gạch kia chiếc lá trường xuân vẫn đứng nương vào vách. Ðấy là chiếc lá cuối cùng. Vẫn xanh thẫm nơi gần cuống lá, nhung quanh rìa đã ngả màu vàng sẫm và hư hoại; chiếc lá vững chãi bám chắc vào cành cây cách mặt đất chừng sáu mét.

- Ðấy là chiếc lá cuối cùng - Johnsy nói - Mình tưởng chắc nó đã rơi đêm qua rồi. Mình nghe tiếng gió. Hôm nay chắc nó sẽ rơi và lúc ấy mình cũng sẽ chết.

- Bạn yêu quý - Sue nói, mặt hốc hác cúi xuống gối - nếu bạn không nghĩ về bản thân thì hãy nghĩ đến mình. Mình biết làm gì bây giờ?

Nhưng Johnsy không trả lời. Trên cõi đời này, cái cô độc nhất là một linh hồn đang chuẩn bị sẵn sàng để đi xa trên hành trình bí ẩn của nó. Ý nghĩ đó dường như chế ngự cô mạnh hơn khi từng tí, sợi dây ràng buộc cô với tình bạn, với thế gian này đang chùn ra.

Ngày trôi qua và ngay đến khi trong ánh hoàng hôn họ vẫn còn thấy chiếc lá trường xuân cô đơn bám chặt lấy thân cây tựa trên bờ vách. Và rồi khi bóng đêm tràn đến, gió bắc lại lồng lên trong lúc mưa vẫn nặng hạt quật vào cửa sổ, rơi xuống từ mái hiên thấp kiểu Hà Lan.

Lúc trời vừa hửng sáng, Johnsy tàn nhẫn yêu cầu kéo rèm lên.

Chiếc lá trường xuân vẫn còn đó.

Johnsy nằm nhìn nó hồi lâu. Lát sau cô gọi nhẹ Sue, đang nấu cháo gà cho cô trên cái bếp ga.

- Mình đúng là đồ tệ thật Sudie à - Johnsy nói - Cái điều đã khiến chiếc lá cuối cùng kia nằm đấy đã cho mình thấy mình là kẻ nhẫn tâm như thế nào. Muốn chết là tội lỗi. Bây giờ bạn cho mình xin một tí cháo, ít sữa có pha tí rượu vang, và... khoan đã, đưa cho mình chiếc gương tay trước rồi sắp mấy cái gối quanh mình, mình sẽ ngồi dậy xem bạn nấu.

Một giờ sau cô nói:

- Sudie à, hôm nào đó mình hy vọng sẽ vẽ vịnh Naples.

Buổi chiều bác sỹ đến, khi ông về, Sue kiếm cớ để theo ra hành lang.

- Thoát rồi - bác sỹ nắm bàn tay gầy guộc run run của Sue và nói - Bằng tài chăm sóc khéo léo, cô đã chiến thắng. Bây giờ tôi phải đi thăm một ca khác ở dưới lầu. Behrman, tên ông ấy... tôi chắc đó là một nghệ sĩ. Cũng bị viêm phổi. Ông ấy đã già yếu mà bệnh tình thì lại nguy kịch. Không còn hi vọng, nhưng hôm nay ông ấy sẽ nhập viện để được chăm sóc kỹ càng hơn.

Hôm sau bác sỹ bảo Sue:

- Cô ấy đã qua cơn hiểm nghèo. Cô đã thắng. Bây giờ chỉ cần bồi dưỡng và chăm sóc chu đáo, thế thôi.

Chiều hôm ấy Sue đến bên giường, nơi Johnsy đang nằm bình thản đan nhì nhằng chiếc khăn choàng len xanh thẫm và choàng tay ôm lấy người Johnsy với cả đống gối.

- Mình có chuyện kể đây, chuột bạch này - cô nói - Hôm nay, bác Behrman mất vì viêm phổi ở bệnh viện. Bác chỉ ốm có hai ngày. Sáng hôm đầu tiên, người gác cổng đã thấy bác quằn quại đau trong phòng của bác nơi tầng trệt. Giày và quần áo bác ướt sũng, lạnh băng. Họ không thể hình dung bác đã ở đâu vào cái đêm khủng khiếp như thế. Rồi khi họ tìm thấy chiếc đèn lồng, hãy còn sáng và cái thang đã bị kéo khỏi chỗ của nó, mấy chiếc bút lông vương vãi và một bảng pha mầu với xanh vàng hòa lẫn, và... nhìn ra cửa sổ kia, bạn, chỗ chiếc lá trường xuân cuối cùng ấy. Bạn không ngạc nhiên là tại sao nó chẳng hề rung rinh hay di chuyển khi gió thổi? Ồ, bạn thân thương ơi, đấy là kiệt tác của bác Behrman... bác vẽ nó ở đó vào cái đêm chiếc lá cuối cùng rơi.
(O.Henry)

Nhật ký anh chàng độc thân kỳ quặc


2h sáng: Vo ve vo ve. Cái lỗ thủng trên màn to bằng nắm tay, muỗi vào thả giàn, ghét mấy con muỗi không tả được, hôm nay mới tả được. Cố gắng bắt một con to nhất, ru ngủ cho nó, rồi ngồi kêu vo ve bên tai. Con muỗi mắt thâm quầng, lảo đảo bay đi...

4h sáng: Tén ten tẻn tèn ten. Có tin nhắn. Giật mình thức giấc. “... tắt đèn sớm, nhớ uống thuốc ngủ nhé...". Được quan tâm hạnh phúc đến phọt nước mắt...

7h: Quáng quàng dậy, hôm nay phỏng vấn ở công ty mới, lần mần nghĩ đến đợt thử việc trước ở công ty nọ, trong giấy báo trúng tuyển có ghi “Chỉ đeo cà vạt”, thế mà lúc đến thấy chúng nó còn mặc cả quần áo. Bị đuổi trong nhõn một ngày, nghĩ đến mà rùng cả mình...

8h: Hối hả đến nơi, rồi cũng đợi được đến lúc vào phỏng vấn, ông già nhăn nhở hỏi "Quan hệ với đồng nghiệp?", lạnh lùng trả lời: "Tuần 2 lần, tuần khỏe có khi 3 lần", ông già trợn mắt, chắc tiếc cái tuổi thanh xuân.

10h: Đọc báo "Chen lấn lên xe, 2 thanh niên tử nạn", nhìn kĩ lại thì đúng cái bến xe buýt hôm qua mình đi, đúng số hiệu xe ấy, đúng 2 cái đứa bị mình ủn xuống lúc xe sau chờ tới, thật trùng hợp...

12h trưa: Cơm. Sao bây giờ cái gì cũng có chất bảo quản, lẳng lặng gọi về cho bu xin ít rau củ cải thiện: "bu nhớ gửi cho con cái loại toàn phân tươi í nhé, ăn phân hóa học sợ lắm...", bu già ậm ờ, không biết có nghe rõ không, thương bu già thắt ruột.

14h chiều: Đi họp phụ huynh cho thằng cháu, nghe bác hội trưởng phăm phăm phát biểu: "Tôi đánh giá lớp ta, các cháu trai ai cũng có tinh, thần ấy là cái tinh thần học tập", tỉnh dậy nước dãi vòng quanh mép, lớp chỉ còn lác đác vài người...

17h chiều: Tắc đường, nan hoa cắm đầy vành, đầu lênh láng tóc. Đứng im hít khói xe nhám phổi, lắp cánh bay thì sợ quýnh dây điện chết còn đau đớn gấp bội. Cam chịu cam chịu...

20h: Trà đá, thấy một thằng choai choai đi xe Wave tàu, giật túi của chị lao công rồi phóng vèo qua chỗ mình, tiện cốc trà đá tạt thẳng vào mặt nó. Thằng choai choai cắm đầu vào cột điện, mình đứng dậy bỏ đi, phần vì ngại lên báo, phần vì cảm thấy trên đời còn nhiều việc anh hùng hơn thế. Lúc sau chạy ra xem, vẫn thấy chị lao công đứng bải lải: "Thằng khốn nạn nào tạt nước vào mắt con bà...".

22h: Giặt quần áo. Nhớ hồi xưa ba hay nói, nếu con chăm chỉ, con sẽ có tất cả. Đúng là sau này có thật, 2 đôi tất. Một đôi gọi là Tất Cả, to hơn, đôi bé gọi là Tất Thứ, để đi luân phiên trong 6 cái mùa đông.

23h: Xem tivi, chẳng hiểu chương trình nói về cái gì, chỉ biết mang máng anh Vương nào đấy làm mất nỏ thần của cơ quan, không báo công an, cũng không kêu tài vụ xuất tiền mua đền cái khác, lẳng lặng bỏ trốn cùng con gái. Trộm nghĩ về cái tính vô trách nhiệm của người ta...

Lại đêm, ném cái dép sang mái nhà hàng xóm, ồn ào, nghe loáng thoáng "... 1h rồi mà không cho người ta ngủ à...", chỉnh lại đồng hồ rồi thiếp đi lúc nào không hay...
(ST internet)

Buồn ơi trong đêm nay


Con người ta thật lạ, khi mất đi một thứ gì đó ta mới chợt nhận ra nó thật sự quý giá với mình, mới thấy rằng mình rất cần nó. Nhưng khi nó đang ở bên ta thì ta lại quên béng mất sự hiện hữu của nó; ta luôn chạy ra ngòai tìm kiếm những thứ vốn không thuộc về ta nhưng ta lại cho đó là những thứ cần với ta. Tình cảm là một thứ thật sự khó để mất đi và cũng khó để phục hồi khi đã đánh mất. Và giờ đây ta đang khóc, khóc vì những thứ đã qua, khóc vì sự cô đơn trong không gian tĩnh mịch của màn đêm.

Múa rối nước


Nghệ thuật múa rối nước, một loại hình dân gian truyền thống độc đáo ứng dụng rất nhiều vào thực tiễn đời sống từ xa xưa cho đến ngày nay.
Người nghệ nhân rối nước đứng trong buồng trò để điều khiển con rối. Họ thao tác từng cây sào, thừng, vọt... hoặc giật con rối bằng hệ thống dây bố trí ở bên ngoài hoặc dưới nước. Sự thành công của quân rối nước chủ yếu trông vào sự cử động của thân hình, hành động làm trò đóng kịch của nó.
Người đi xem múa rối nước hầu hết chỉ tập trung vào sân khấu của các con rối mà đâu biết rằng nó chỉ là công cụ được điều khiển bởi các nghệ nhân tài ba ẩn nấp phía sau buồng.
Cuộc sống, xã hội phải chăng cũng chính là một vở kịch múa rối nước trong thời hiện đại. Những thứ hoa mỹ tráng lệ bên ngoài, những thứ thu hút sự chú ý của dư luận, của mọi người phải chăng cũng được điều khiển bởi một một nhóm người hay một thế lực phía sau mà người xem đã vô tình không biết đến. 
Con người cũng chỉ là con rối của tạo hoá và con rối của chính họ mà thôi.
Trong mỗi con người luôn tồn tại hai vai trò: con rối và nghệ nhân. Nếu không phải là một nghệ nhân giỏi đã qua tôi luyện thì rất khó để điều khiển được con rối theo ý mình. Lý trí, bản tính con người cũng vậy, nếu không có sự giác ngộ, không có sự rèn luyện thì rất khó để khống chế được thất tình lục dục, cám dỗ ngoại vật,..

Bức tranh đấu giá

Có một người đàn ông yêu thích mỹ thuật. Ông ta say mê đến mức gần như sống vì niềm say mê của mình. Sưu tập tranh là mục tiêu cả đời của ông. Ông làm việc rất chăm chỉ để dành tiền tiết kiệm nhằm mua thêm các tác phẩm hội họa cho bộ sưu tập của mình. Ông mua rất nhiều tác phẩm của các họa sỹ nổi tiếng.
Người đàn ông này đã góa vợ. Ông chỉ có một người con trai. Ông đã truyền lại cho con mình niềm say mê sưu tầm đó. Ông rất tự hào về con trai của mình khi anh ta cũng trở thành một nhà sưu tầm nổi tiếng như ông.
Một thời gian sau, đất nước bỗng có chiến tranh. Người con trai, cũng như mọi thanh niên khác, lên đường tòng quân. Và sau một thời gian thì câu chuyện xảy ra...
Một hôm, người cha nhận được một lá thư thông báo rằng người con đã mất tích khi đang làm nhiệm vụ. Người cha đau khổ đến tột cùng. Thật là khủng khiếp khi người cha không thể biết được điều gì đang xảy ra với con mình.
Vài tuần sau ông nhận được một lá thư nữa. Lá thư này báo với ông rằng con ông đã hy sinh khi làm nhiệm vụ. Ông gần như chết đi một nửa người. Thật khó khăn khi đọc tiếp lá thư đó, nhưng ông vẫn cố. Trong thư, người ta báo rằng con ông đã rút lui đến nơi an toàn. Nhưng thấy trên bãi chiến trường vẫn còn những đồng đội bị thương, con ông đã quay lại và đưa về từng thương binh một. Cho đến khi đưa người cuối cùng về gần đến khu vực an toàn thì con ông đã trúng đạn và hy sinh.
Một tháng sau, đến ngày Noel, ông không muốn ra khỏi nhà. Ông không thể hình dung được một Noel mà thiếu con trai mình bên cạnh. Ông đang ở trong nhà thì có tiếng chuông gọi cửa. Đứng trước cửa nhà là một chàng trai tay cầm một bọc lớn.
Chàng trai nói "Thưa bác, bác không biết cháu, nhưng cháu là người mà con bác đã cứu trước khi hy sinh. Cháu không giàu có, nên cháu không biết đem đến cái gì để đền đáp cho điều mà con bác đã làm cho cháu. Cháu được anh ấy kể lại rằng bác thích sưu tầm tranh, bởi vậy dù cháu không phải là một họa sỹ, cháu cũng vẽ một bức chân dung con trai bác để tặng cho bác. Cháu mong bác nhận cho cháu."
Người cha đem bức tranh vào nhà, mở ra. Tháo bức tranh giá trị nhất vẫn treo trên lò sưởi xuống, ông thay vào đó là bức chân dung người con. Nước mắt lưng tròng, ông nói với chàng trai "Đây là bức tranh giá trị nhất mà ta có được. Nó có giá trị hơn tất cả các tranh mà ta có trong căn nhà này."
Chàng trai ở lại với người cha qua Noel đó rồi hai người chia tay. Sau vài năm, người cha bị bệnh nặng. Tin tức về việc ông qua đời lan truyền đi rất xa. Mọi người đều muốn tham gia vào cuộc bán đấu giá những tác phẩm nghệ thuật mà người cha đã sưu tầm được qua thời gian. Cuối cùng thì buổi bán đấu giá cũng được công bố vào ngày Noel năm đó. Các nhà sưu tầm và những nhà đại diện cho các viện bảo tàng đều háo hức muốn mua các tác phẩm nổi tiếng. Toà nhà bán đấu giá đầy người. Người điều khiển đứng lên và nói "Tôi xin cám ơn mọi người đã đến đông đủ như vậy. Bức tranh đầu tiên sẽ là bức chân dung này..."
Có người la lên "Đó chỉ là chân dung đứa con trai ông cụ thôi! Sao chúng ta không bỏ qua nó, và bắt đầu bằng những bức có giá trị thật sự?"
Người điều khiển nói "Chúng ta sẽ bắt đầu bằng bức này trước!"
Người điều khiển bắt đầu "Ai sẽ mua với giá $100?"
Không ai trả lời nên ông ta lại tiếp "Ai sẽ mua với giá $50?"
Cũng không có ai trả lời nên ông ta lại hỏi "Có ai mua với giá $40?"
Cũng không ai muốn mua. Người điều khiển lại hỏi "Không ai muốn trả giá cho bức tranh này sao?" Một người đàn ông già đứng lên "Anh có thể bán với giá $10 được không? Anh thấy đấy, $10 là tất cả những gì tôi có. Tôi là hàng xóm của ông cụ và tôi biết thằng bé đó. Tôi đã thấy thằng bé lớn lên và tôi thật sự yêu quý nó. Tôi rất muốn có bức tranh đó. Vậy anh có đồng ý không?"
Người điều khiển nói "$10 lần thứ nhất, lần thứ nhì, bán!"
Tiếng ồn ào vui mừng nổi lên và mọi người nói với nhau "Chúng ta có thể bắt đầu thật sự được rồi!" Người điều khiển nói "Xin cảm ơn mọi người đã đến. Thật là vinh hạnh khi có mặt những vị khách quý ở đây. Bữa nay chúng ta sẽ dừng tại đây!"
Đám đông nổi giận "Anh nói là hết đấu giá? Anh vẫn chưa đấu giá toàn bộ các tác phẩm nổi tiếng kia mà?" Người điều khiển nói "Tôi xin lỗi nhưng buổi bán đấu giá đã chấm dứt. Mọi người hãy xem chúc thư của ông cụ đây, NGƯỜI NÀO LẤY BỨC CHÂN DUNG CON TÔI SẼ ĐƯỢC TẤT CẢ CÁC BỨC TRANH CÒN LẠI! Và đó là lời cuối cùng!”

Bởi vì nó là ngọn nến

Một tối mất điện, ngọn nến được đem ra đặt ở giữa phòng. Người ta châm lửa cho ngọn nến và nến lung linh cháy sáng. Nến hân hoan nhận ra rằng ngọn lửa nhỏ nhoi của nó đã mang lại ánh sáng cho cả căn phòng. Mọi người đều trầm trồ: "Ồ, nến sáng quá, thật may, nếu không chúng ta sẽ chẳng nhìn thấy gì mất". Nghe thấy vậy, nến vui sướng dùng hết sức mình đẩy lui bóng tối xung quanh.
... Thế nhưng, những dòng sáp nóng đã bắt đầu chảy ram lăn dài theo thân nến. Nến thấy mình càng lúc càng ngắn lại. Đến khi chỉ còn một nửa, nến giật mình: "Chết mất, ta mà cứ cháy mãi thế này thì chẳng bao lâu sẽ tàn mất thôi. Tại sao ta phải thiệt thòi như vậy?!". Nghĩ rồi, nến nương theo một cơn gió thoảng để tắt phụt đi. Một sợi khói mỏng manh bay lên rồi nến im lìm.
Mọi người trong phòng nhớn nhác bảo nhau: "Nến tắt mất rồi, tối quá, làm sao bây giờ?". Ngọn nến mỉm cười tự mãn và hãnh diện vì tầm quan trọng của mình. Nhưng bõng một người đề nghị: "Nến dễ bị gió thổi tắt lắm, để tôi đi tìm cái đèn dầu". Mò mẫm trong bóng tối ít phút, người ta tìm được một chiếc đèn dầu." Đèn dầu được thắp lên còn ngọn nến đang cháy dở thì bị bỏ vào ngăn kéo tủ.
Ngọn nến buồn thiu. Thế là từ nay nó sẽ bị nằm trong ngăn kéo, khó có dịp cháy sáng nữa. Nến chợt hiểu rằng hạnh phúc của nó là được cháy sáng vì mọi người, dù chỉ có thể cháy với ánh lửa nhỏ và dù sau đó nó sẽ tan chảy đi...
... Bởi vì nó là ngọn nến.

Dư già bán sách

Sở hữu một cửa hàng sách cũ toạ lạc mặt tiền số 180 Bà Triệu, được giới playbooker gọi bằng nhiều cách xưng hô thân thiện (lão, bố, thằng cha,...) và chắc hẳn nếu là người thật sự tìm hiểu và quan tâm đến sách thì chẳng một ai không biết lão.Thân hình bồ tượng, vai vuông như cái tủ lạnh, quần soọc chìa hai cẳng chân lông lá to như cái cột đình, mặt rỗ chằng, to như cái bánh bẻng, đầu lơ thơ lúc nào cũng sẵn sàng qua giai đoạn hói. Ấy là Dư già. Danh thiếp (mấy năm gần đây mới xuất hiện quả marketing này) ghi rõ Kỹ sư …Dư, điện thoại di động, địa chỉ cửa hàng… 
Tiếng lành đồn xa, tuy không sành về sách nhưng mình cũng loáng thoáng nghe danh của lão. Mình còn nhớ hồi đó đang học năm 2, tuy chuyên ngành kinh tế nhưng lại hay mò mẫm tìm hiểu về đông y nên thường ngày đi các hiệu sách cũ để sách về y học cổ truyền.Quyết định dành ngày nghỉ thứ 7 để làm chuyến khảo sát thực tế quán sách của Dư già và cũng là đi tìm mua vài cuốn y học. Đến nơi, dựng xe đạp trên vỉa hè, theo thói quen khi đến hiệu sách mình tìm đường phi thẳng vào kệ sách phía trong, chợt một thân hình khổng lồ chặn lại, Dư già trợn mẳt  với giọng hách dịch hét lên "Tìm sách gì ? ". Mình bảo đang cần tìm mấy cuốn sách về y học cổ truyền in trước 75. Lão đăm chiu như đang nghĩ ngợi gì đó rồi liếc nhìn con xe đạp dựng ngoài cửa của mình mặt nhăn nhúm trả lời như xua đuổi: "Mày có đủ tiền không mà đòi mua sách". Thật sự choáng với cách hỏi khách hàng của lão, lần đầu tiên mình gặp trường hợp như này. Mình hỏi đại một cuốn cũng đang muốn tìm: ở đây chú có cuốn Trang tử nam hoa kinh của Nguyễn Duy Cần không ạ, lần này lão cáu thật sự, nhìn mình rồi hét lên: 10 triệu, ko mua thì xéo. Mk, trong đầu mình lúc này đang hình dung lão là một thằng có vấn đề ko bình thường về thần kinh hoặc lão bị ám ảnh chuyện gì đó từ quá khứ để lại. Mình chuồn thẳng và từ đấy không bao giờ quay lại đó nữa.
Tình cờ mới đây qua cửa hàng sách cũ của ông bạn già ở chợ Nghĩa Tân chơi mình lại loáng thoáng thấy hình bóng thân quen ấy. Vẫn khuôn mặt đáng ghét đấy, vẫn cặp kính ngày xưa lão hay đeo và vẫn cái giọng ồm ồm như sẵn sàng chửi bới người khác. Lão vào quán lục tung cả mấy kệ sách, có vẻ đang săn lùng một cuốn nào đó theo đơn đặt hàng của khách. Cuối cùng lão cũng chọn mua được một cuốn sách với giá 25k, cuốn này ít nhất về gặp khách lão phải hét giá lên tầm 500k-1 triệu là ít. Giờ mình mới hiểu tại sao lão nổi tiếng khắp trong và ngoài nước, với chất lượng phục vụ có một không hai trên thế giới, thương hiệu sách Dư già đã vượt qua biên giới Việt Nam và vươn ra thị trường thế giới từ đó

- Copyright © Vô Danh - Blog cá nhân và những bài chém gió -DAIHUYEN- Powered by Blogger - Designed by Johanes Djogan -